»

Giá vàng giao ngay thế giới 9h06' ngày 21/8: 155,46 USD/chỉ. Giá vàng 9999 tại Hà Nội 9h08' ngày 21/8 mua: 3644 nghìn đồng/chỉ, bán: 3658 nghìn đồng/chỉ. Chỉ số chứng khoán ngày 21/8: VN-Index: 612,94 + 6,24 HNX-Index: 83,01 - 0,05 Thời gian giao dịch phục vụ khách hàng tại các Chi nhánh, PGD, QTK của VietinBank – Từ thứ 2 tới thứ 6: Từ đầu giờ sáng tới 17h (trừ ngày lễ, tết).

Gian lận lãi suất Libor

ThS.Vũ Đức Lộc
Phòng Quản lý Rủi ro hoạt động

1,5 tỷ và 453 triệu USD là số tiền phạt mà Ngân hàng UBS và Barclays lần lượt phải nộp cho cơ quan quản lý của Hoa Kỳ, Anh và Thụy Sĩ liên quan đến gian lận và hối lộ để tác động/ảnh hưởng lên quá trình xác định lãi suất (LS) Libor nhằm thu lợi cho Ngân hàng. Hai vụ gian lận trên bắt đầu cho các vụ điều tra liên quan đến gian lận Libor nhằm vào một số Ngân hàng Quốc tế khác.

Lãi suất Libor là gì?
Libor (LS liên ngân hàng London) bao gồm 150 LS ngắn hạn của 10 loại tiền tệ cho 15 kỳ hạn khác nhau. Vào mỗi buổi sáng, Chuyên gia định giá (CGĐG) từ mỗi ngân hàng toàn cầu sẽ gửi chi phí vốn vay đề xuất cho đại lý duy nhất tính toán LS Libor là Thomson Reuters. Đại lý này sẽ tính toán để xác định LS Libor. LS Libor được sử dụng làm chuẩn tham chiếu rộng rãi cho LS ngắn hạn trong hệ thống tài chính toàn cầu và làm cơ sở cho thị trường vay vốn, từ sản phẩm cho vay mua nhà đơn giản đến những sản phẩm phái sinh phức tạp.

Nguồn: Bloomberg.

Tại sao các ngân hàng lại gian lận LS Libor?
Trong thị trường tài chính, sự lên/xuống LS Libor ảnh hưởng trực tiếp đến lỗ/lãi của việc kinh doanh các hợp đồng hoán đổi lãi suất (IRS). Các Ngân hàng đầu tư quốc tế mua/bán một lượng lớn các IRS có kỳ hạn khác nhau. Do đó, khi các ngân hàng này có khả năng ảnh hưởng đến sự tăng/giảm LS Libor trước ngày điều chỉnh LS thả nổi có thể mang lại lợi nhuận đáng kể cho Ngân hàng.

Rủi ro của các vụ gian lận Libor là hoàn toàn liên quan đến rủi ro về con người, đặc biệt là vấn đề xung đột lợi ích giữa các bên. Trách nhiệm và lợi ích của từng bên liên quan đến gian lận Libor được mô tả dưới đây:
- Giám đốc cấp cao phụ trách kinh doanh: có trách nhiệm đảm bảo kinh doanh có lợi nhuận, nâng cao danh tiếng của ngân hàng và tuân thủ nghiêm ngặt theo thông lệ Quốc tế. Thu nhập chủ yếu của họ là từ tiền thưởng dựa trên kết quả kinh doanh các sản phẩm phái sinh.
- Chuyên gia định giá – lãi suất (Submmiter): dựa trên kinh nghiệm chuyên môn để tính toán và đề xuất chi phí vốn. CGĐG được yêu cầu phải làm việc độc lập, trung thực và không chịu một bất kỳ sức ép/tác động nào trong việc đưa ra chi phí vốn vay của ngân hàng. Lợi ích mà họ nhận được là lương và thưởng cao, thường là dựa trên kết quả kinh doanh của Ngân hàng.
- Chuyên viên giao dịch (CVGD): Mua/bán các sản phẩm trên thị trường phái sinh, nhiệm vụ là mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Thu nhập chủ yếu từ tiền thưởng.
- Chuyên viên môi giới (CVMG): kết nối người mua và người bán, môi giới được càng nhiều giao dịch thì tiền thưởng càng cao.

Theo các quy định nghiêm ngặt của cơ quan quản lý và đạo đức nghề nghiệp, Giám đốc cấp cao, CVGD và CVMG không được liên hệ để tác động lên CVĐG trước khi gửi LS Libor cho Thomson Reuters. Tuy nhiên, các bên vẫn có những yêu cầu bất hợp pháp đối với CGĐG để nhằm gian lận trong việc làm tăng/giảm LS Libor. Họ hoàn toàn tin rằng những yêu cầu bất hợp pháp tạo lợi thế cho đồng nghiệp của mình, là một việc bình thường trong kinh doanh. Những vi phạm được thể hiện cụ thể qua các mối quan hệ giữa các bên liên quan như sau:

Nguồn: www.risk.net.

Giám đốc cấp cao và CGĐG (Ngân hàng A): Giám đốc cấp cao dùng quyền hạn của mình để yêu cầu bất hợp pháp CGĐG gửi LS vốn vay theo yêu cầu, nhằm mang lại lợi nhuận và vị thế ổn định của ngân hàng.
CVGD và CGĐG (Ngân hàng A): CVGD yêu cầu CGĐG tăng/giảm LS Libor và CGĐG sẽ tìm cách để thực hiện yêu cầu đó, đổi lại CGĐG nhận được các món quà giá trị hoặc tiền. Với sự thay đổi này, CVGD đang kinh doanh thua lỗ chuyển thành có lãi.
CVGD và CVMG: CVGD (Ngân hàng A) sẽ yêu cầu CVMG tác động đến các CVGD và CGĐG của các ngân hàng khác (Ngân hàng B). Đổi lại cho việc làm đó, CVMG thường nhận được một khoản tiền vào hàng tháng. Bằng cách làm như vậy, CGĐG (Ngân hàng B) sẽ phần nào bị ảnh hưởng bởi xu thế vốn vay.
CGĐG và CVMG: CGĐG liên hệ với CVMG để cung cấp xu hướng về LS của thị trường và yêu cầu CVMG liên hệ thông báo và tác động với các CVGD và CGĐG của các Ngân hàng khác về xu hướng này.
CVMG và CGĐG/CVGD: Sau khi nhận yêu cầu từ Ngân hàng A, CVMG sẽ tung tin và liên hệ với CVGD và CGĐG của các ngân hàng khác.
CGĐG (ngân hàng A) và CGĐG (ngân hàng B): sau khi nhận được yêu cầu từ CVGD, CGĐG (Ngân hàng A) sẽ liên hệ với CGĐG (Ngân hàng B) để ảnh hưởng định hướng về LS Libor. Sự thông đồng này bị hoàn toàn nghiêm cấm.
CVGD (ngân hàng A) và CVGD (ngân hàng B): CVGD sẽ liên hệ với CVGD của ngân hàng đối thủ  để chia sẻ những thông tin nhạy cảm để cùng nhau làm ảnh hưởng và đạt được LS Libor có lợi cho cả hai bên.

Các công cụ quản lý rủi ro về con người
Dựa trên phân tích các mối quan hệ giữa các bên liên quan, xung đột lợi ích là rủi ro chủ chốt trong gian lận Libor. Để giảm thiểu rủi ro liên quan đến con người, các công cụ quản lý rủi ro sau nên được đưa vào áp dụng:

Chỉ số rủi ro hoạt động chính (KRIs) cảnh báo cho Ngân hàng các rủi ro nghiêm trọng tiềm tàng. Ví dụ, chỉ số này có thể đánh giá rủi ro của sự tăng trưởng đột biến của sản phẩm mới và thị trường mới.

Tự đánh giá rủi ro hoạt động và biện pháp kiểm soát (RCSA): nên được triển khai để nâng cao nhận thức về rủi ro hoạt động trong toàn hệ thống. Những vụ gian lận về LS Libor đã làm tăng quan ngại về công tác quản lý rủi ro về con người.

Là một phần của RCSA, việc áp dụng công cụ phân tích các mối quan hệ (people mapping) là một điều cần thiết. Công cụ này giúp nhà quản lý biết được các mối quan hệ của nhân viên cả trong lẫn ngoài hệ thống, nhằm phát hiện ra các xung đột lợi ích, từ đó tránh được sự thông đồng để cố tình làm sai. Đặc biệt chú ý đến các mối quan hệ giữa Giám đốc/nhân viên, CVGD/CGĐG và CVGD/CVMG. Khi sự câu kết tiềm tàng được phát hiện sớm, các biện pháp phòng ngừa rủi ro sẽ được triển khai.

Ngoài ra, phương thức giao tiếp chính thống trong lúc làm việc giữa các bên phải được thiết lập và ghi âm lại để nhằm mục đích phát hiện gian lận và các hoạt động phi đạo đức giữa Giám đốc/nhân viên, CVGD/CGĐG và CVGD/CVMG.

Kết luận
Lãi suất Libor được thiết kế với mục tiêu ban đầu là dựa trên cơ chế minh bạch và được sử dụng làm cơ sở cho thị trường vay vốn trong hệ thống tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, những rủi ro về xung đột lợi ích đã phá hủy hoàn toàn sự minh bạch của toàn bộ hệ thống xác định LS Libor; điều đó đặt một dấu hỏi lớn về rủi ro hoạt động liên quan đến con người đối với hệ thống Ngân hàng./.