»

Giá vàng giao ngay thế giới 9h12' ngày 18/9: 147,50 USD/chỉ. Giá vàng 9999 tại Hà Nội 8h57' ngày 18/9 mua: 3585 nghìn đồng/chỉ, bán: 3599 nghìn đồng/chỉ. Chỉ số chứng khoán ngày 17/9: VN-Index: 625,66 - 2,00  HNX-Index : 90,16 + 0,00  Thời gian giao dịch phục vụ khách hàng tại các Chi nhánh, PGD, QTK của VietinBank – Từ thứ 2 tới thứ 6: Từ đầu giờ sáng tới 17h00 (trừ ngày lễ, tết).

Những tác động của chính sách tiền tệ thắt chặt

TS. Nguyễn Thị Hải Hà
Trường Đào tạo và PTNNL VietinBank

Mặc dù những khó khăn của kinh tế thế giới năm 2011 đã được lường trước, nhưng những biến động trong năm vẫn nằm ngoài dự đoán. Giá vàng giao động với biên độ mạnh chưa từng có và liên tiếp lập các đỉnh lịch sử; khủng hoảng nợ của Hy lạp lan rộng sang các nước Châu Âu, giá nguyên vật liệu (NVL) leo thang, đặc biệt là giá dầu… Theo báo cáo triển vọng kinh tế thế giới tháng 9/2011 của Ngân hàng thế giới, trong khi tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2011 giảm sút, thì giá dầu tăng khoảng 30,6%, giá NVL phi dầu tăng 21,2%. Giá tiêu dùng cũng tăng cao, ở các nước phát triển khoảng 2,6%, các nước đang phát triển khoảng 7,5% (so với các mức tương ứng  1,6% và 6,1% năm 2010).

Trong nước, đối mặt với bất ổn kinh tế vĩ mô là một thách thức lớn nhất. Ngoài tác động của biến động kinh tế thế giới, những khó khăn trong nước còn xuất phát từ những yếu kém nội tại của nền kinh tế. Giá vàng trong nước luôn vượt xa so với giá vàng thế giới. Giá cả tăng cao, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 và 11/2010 lần lượt là 1,9% , 2% và vượt lên trên 2% vào các tháng 2, 3/2011.

Trong bối cảnh như vậy, chính sách tiền tệ (CSTT) thắt chặt đã được áp dụng kể từ ngày 5/11/2010 và được tăng cường với Nghị quyết 11 ngày 24/2/2011. Có thể nói, CSTT thắt chặt với các giải pháp hành chính hỗ trợ là một lựa chọn hợp lý trước các bất ổn gia tăng trong nền kinh tế.

Tính chung cả năm, tổng phương tiện thanh toán (PTTT) dự kiến tăng 10%; Tăng trưởng tín dụng khoảng 12-13%, trong đó tín dụng sản xuất kinh doanh tăng 15%, tín dụng nông nghiệp nông thôn tăng 24%, có thời điểm hơn 30%; Tín dụng xuất khẩu tăng 58%; ngược lại tín dụng chứng khoán và bất động sản lại giảm mạnh.

Lạm phát, do vậy đã được kiềm chế. Kể từ tháng 8, CPI đã xuống dưới 1%/tháng. Các áp lực tỷ giá đã hạ nhiệt. Khoảng cách tỷ giá trên thị trường tự do và tỷ giá chính thức thu hẹp, có thời điểm tỷ giá thị trường tự do thấp hơn tỷ  giá chính thức. Giá vàng trong nước cũng đã được kéo xuống gần với giá vàng thế giới hơn và đã có thời điểm giá vàng trong nước xuống thấp hơn gía vàng thế giới qui đổi.

1. CSTT thắt chặt năm 2011
Sau khi tăng lãi suất (LS) cơ bản tháng 11/2010, điều chỉnh giảm giá VND (giảm 9,3% giá trị VND so với USD) và thu hẹp biên độ giao động (từ +- 3% xuống +-1%) vào ngày 11/2/2011, Nghị quyết 11 ngày 24/2/2011 tiếp tục siết chặt CSTT, đồng thời áp dụng một loạt giải pháp hành chính hỗ trợ, cụ thể như: kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%, tổng PTTT khoảng 15-16%; tập trung ưu tiên vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa; giảm tốc độ và tỷ trọng vay vốn tín dụng của khu vực phi sản xuất; qui định các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng khi có nguồn thu và được mua khi có nhu cầu hợp lý; Kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh vàng; Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về thu đổi ngoại tệ, kinh doanh vàng;...

Có thể nói, hệ thống giải pháp tiền tệ nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô trong những tháng đầu năm là khá đồng bộ, nhất quán. Giảm mạnh tổng PTTT và dư nợ tín dụng là trực tiếp giảm luồng tiền lưu thông trong nền kinh tế. Giảm giá VND, thu hẹp biên độ tỷ giá là nhằm giảm kỳ vọng biến động giá và lợi ích của việc nắm giữ USD. Tăng dự trữ bắt buộc (DTBB) và diện phải thực hiện DTBB đối với tiền gửi ngoại tệ là nhằm tăng chi phí đối với nguồn tín dụng ngoại tệ. Tính chất hành chính của các giải pháp cũng là một đặc thù và là yếu tố không thể thiếu của hệ thống giải pháp ổn định vĩ mô trong bối cảnh bất ổn gia tăng, áp lực nguồn vốn của hệ thống ngân hàng rất lớn. Áp trần LS huy động VND và áp trần LS huy động USD là nhằm đảm bảo tương quan lợi ích giữa tiền gửi và lợi ích từ sản xuất kinh doanh, khuyến khích đầu tư sản xuất hàng hóa, đồng thời hạn chế sự gia tăng LS cho vay, hạn chế chi phí, giá thành sản phẩm. Hạn chế tín dụng phi sản xuất, với các giới hạn cứng về dư nợ phi sản xuất trong tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng (TCTD) là 22% vào 31/6/2011 và 16% vào 31/12/2011, nhằm dịch chuyển nguồn vốn vào các lĩnh vực sản xuất, tăng cung hàng hóa cho nền kinh tế. Áp trần LS USD, đảm bảo tương quan với trần LS VND, hạn chế lợi ích tiền gửi USD, cộng với qui định bán ngoại tệ của các tổ chức kinh tế nhằm hạn chế tình trạng găm giữ USD, phân tán nguồn ngoại tệ trong nền kinh tế.

Tuy nhiên, những bất ổn trên thế giới, kéo theo sự leo thang của giá vàng, giá NVL thế giới và giá vàng, giá tiêu dùng trong nước, cộng với việc siết chặt tiền tệ tín dụng khá đột ngột (các ngân hàng thương mại (NHTM) đã tăng trưởng nóng trong giai đoạn dài trước đó), đã đặt hệ thống ngân hàng vào một cuộc rượt đuổi đầy rủi ro, làm tăng giá cả tiền tệ và mức độ bất ổn cho hệ thống. Nền kinh tế cũng chịu các tác động nặng nề.

Tác động tới các NHTM
Trước hết, do giá vàng, tỷ giá biến động mạnh, do CPI các tháng cuối năm 2010 và đầu năm 2011 ở mức rất cao, do là các tháng áp Tết Nguyên đán, cộng việc áp trần LS huy động VND 14%/năm, nên nguồn vốn vào hệ thống ngân hàng đã chững lại, thậm chí giảm. Tháng 1, nguồn vốn huy động của cả hệ thống giảm gần 2,5% so với cuối năm 2010. Các tháng sau, nguồn vốn đã phục hồi, nhưng mức  tăng thấp hơn nhiều so với các năm trước. Nguồn vốn vào hệ thống chỉ tăng đáng kể khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện mua USD vào các tháng giữa năm. Mặc dù vậy, tính đến cuối tháng 10, huy động của cả hệ thống chỉ tăng 8,59% so với cuối năm 2010 (khoảng 40% mức tăng cùng kỳ năm ngoái).

Nguồn vốn vào rất hạn chế, đối lập với nhu cầu rất lớn của các NHTM, ngay cả khi áp trần tín dụng mới, do các nghĩa vụ trả nợ tiền gửi cũng như nghĩa vụ thực hiện các cam kết giải ngân tín dụng từ trước lớn, nên thanh khỏan của các NHTM luôn ở tình trạng căng thẳng. Cộng với việc theo đuổi CSTT thắt chặt, NHNN tăng LS trên thị trường mở, kéo theo việc tăng LS trên thị trường liên ngân hàng (LNH) (vào tháng 4, Lãi suất trên thị trường LNH kỳ hạn qua đêm lên tới 19 – 20%/năm, kỳ hạn 1 tháng khoảng 22 – 23%/năm) và việc qui định tỷ lệ huy động trên thị trường 2 tối đa là 20% huy động trên thị trường 1, nên lách trần LS huy động cùng với các sản phẩm huy động siêu ngắn đã bùng phát.

LS huy động được các NHTM đẩy lên ngay từ những tháng đầu năm. Mức vượt trần phụ thuộc vào qui mô tiền gửi và “nghệ thuật thương lượng” của khách hàng, nhưng phổ biến lên khoảng 3 – 5%/năm, tức 17 – 20%/năm, không phân biệt ngân hàng to nhỏ. Bên cạnh đó, các NHTM cũng áp dụng các hình thức khuyến mãi khác như tặng quà, rút thăm trúng thưởng... Vấn đề là trần LS đã được NHNN chính thức qui định từ 3/3/2011(trước đó là các NHTM tự thỏa thuận), nên việc lách trần LS huy động đã gây ra những méo mó đáng kể trong công tác hạch toán kế toán. Nghiêm trọng hơn là văn hóa kinh doanh ngân hàng suy giảm khi tình trạng hai giá phổ biến, khách hàng đến ngân hàng giao dịch đương nhiên mặc cả LS, không quan tâm tới trần LS của NHNN, bảng LS giao dịch của ngân hàng. 

Thứ hai, tăng tính bị động và rủi ro thanh khoản đối với hoạt động ngân hàng: Không dừng lại ở đó, LS huy động không kỳ hạn cũng được đẩy lên tương ứng với LS có  kỳ hạn. Các sản phẩm tiền gửi kỳ hạn siêu ngắn đã được các NHTM nhanh chóng chào bán, nhằm đánh vào tâm lý khách hàng gửi tiền trong thời bão giá. Các NHTM cũng cho khách hàng rút tiền gửi linh hoạt và tính LS theo kỳ hạn thực gửi (thực chất là áp lãi tiền gửi có kỳ hạn đối với những khoản tiền gửi không  kỳ hạn).  Như vậy, không chỉ chi phí bị đội lên, các NHTH còn tự  đẩy họ vào các điều kiện bất lợi, bị động, rủi ro. Cộng với thực tế các khoản tín dụng đều có kỳ hạn và có tới 30 – 40% dư nợ tín dụng là tín dụng trung dài hạn thì rủi ro thanh khoản đối với hệ thống đã tăng vọt. Hệ quả dễ nhận thấy là những  khó khăn về thanh khoản, nhất là đối với các NHTM nhỏ kể từ thời điểm NHNN cưỡng chế nghiêm ngặt trần LS huy động 14% từ tháng 9/2011. Việc hợp nhất 3 ngân hàng vừa qua cho thấy sự căng thẳng thanh khoản trong hệ thống và điều này sẽ hạn chế không ít khả năng điều hành CSTT nói chung, chủ trương giảm LS nói riêng.

Tăng tín dụng so với cuối năm 2010.  Nguồn: số liệu trên mạng rickstock.

Thứ ba, mất cân đối tiền tệ, thanh khoản ngoại tệ căng thẳng và áp lực tỷ giá: Huy động VND hạn chế đã thúc đẩy các NHTM tìm kiếm các nguồn thay thế. Ngoại tệ là lựa chọn đầu tiên, không chỉ bởi nguồn ngoại tệ trong nền kinh tế dồi dào, mà lợi ích cao so với tín dụng VND cũng tạo ra các động lực mạnh mẽ trong hoạt động tín dụng ngoại tệ. Tín dụng ngoại tệ đã tăng mạnh kể từ những tháng đầu năm.

Mặc dù khoảng cách giữa tốc độ tăng dư nợ ngoại tệ và VND đã được thu hẹp với hàng loạt chính sách hạn chế tín dụng ngoại tệ (tăng tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi bằng ngoại tệ; áp tỷ lệ DTBB 1% đối với tiền gửi bằng ngoại tệ của các TCTD ở nước ngoài; thu hẹp đối tượng tín dụng ngoại tệ;...), nhưng cả năm, ước tín dụng ngoại tệ vẫn tăng tới 18,7%, gần gấp đôi tốc độ tăng dư nợ VND.
Do dư nợ và huy động ngoại tệ tăng nhanh trong các tháng đầu năm, nên việc áp trần LS huy động USD, thực hiện qui định bán ngoại tệ của các tổ chức và siết chặt quản lý ngoại hối, quản lý ổn định tỷ giá nên các NHTM lại rơi vào tình trạng căng thẳng thanh khoản ngoại tệ. Các sản phẩm huy động ngoại tệ đa dạng lại xuất hiện gây khó khăn cho công tác quản lý tỷ giá, quản lý ngoại hối và quản lý vấn đề đô la hóa của NHNN.

Thứ tư, dư nợ nền kinh tế thấp so với trần cho phép và nợ xấu gia tăng: Dư nợ cả năm ước chỉ tăng 12 – 13%, thấp hơn so với trần cho phép. Lý do từ cả hai phía. Bản thân nhu cầu vay cũng hạn chế do LS quá cao, trong khi hạn chế lượng tiền trong nền kinh tế cũng làm giảm mạnh sức mua trong nước. Xuất  khẩu tăng chủ yếu là do giá tăng vì kinh tế thế giới cũng trì trệ hơn so với năm 2010. Phía cung, một số có khả năng cho vay thì bị giới hạn bởi trần, số khác còn “room”, nhưng lại không có nguồn. Bên cạnh đó, LS trên thị trường LNH cao cũng khuyến khích các NHTM cho vay các NHTM, TCTD khác, thay vì cho vay nền kinh tế. Hệ quả là dư nợ cả năm chỉ tăng 12- 13%, còn nợ xấu gia tăng, ở mức 3,6-3,8% trên tổng dư nợ.

Các tác động tới nền kinh tế
Không chỉ hệ thống ngân hàng, các TCTD rơi vào tình trạng đứng ngồi không yên, mà theo tính toán sơ bộ cũng có tới hàng ngàn doanh nghiệp phải đóng cửa.
Tổng đầu tư xã hội cũng chịu tác động nặng nề, đặc biệt là đầu tư khu vực ngoài nhà nước. Theo số liệu cuả Tổng cục Thống kê, tổng đầu tư xã hội năm 2011 tăng 5,7%, mức thấp nhất trong 5 năm qua, đặc biệt đầu tư ngoài nhà nước năm 2011 chỉ tăng 3,3%, chỉ vào khoảng 1/8 tốc độ tăng của năm 2010.

Tốc độ tăng đầu tư theo thành phần kinh tế. Sức mua nền kinh tế. Nguồn: Tổng cục Thống kê.

Sức mua nội địa cũng giảm mạnh. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế cả năm ước tăng 24,2% so với năm 2010. Nếu loại trừ yếu tố giá, thì mức tăng là 4,7%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 14% năm 2010 và 11% năm 2009.

Tăng trưởng kinh tế cả năm ước 5.89%, thấp hơn so với kế hoạch, đặc biệt khu vực xây dựng đã giảm tuyệt đối, mức giảm là -0,97%. Cho dù con số giảm không lớn, nhưng so với tốc độ tăng trưởng luôn lớn hơn 10% của khu vực này các năm trước, thì đây là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Do khu vực xây dựng là khu vực sử dụng nhiều lao động, nên sự thu hẹp của khu vực này có ảnh hưởng không nhỏ tới vấn đề giảm sút sức tiêu dùng nội địa năm 2011.
 
Nói tóm lại, có thể nói, các mục tiêu về ổn định vĩ mô năm 2011 về cơ bản đã được thực hiện, nhưng khu vực ngân hàng và nền kinh tế đã chịu tác động nặng nề và đây chính là các vấn đề của năm 2012.

2. Một số vấn đề về CSTT năm 2012
Kinh tế thế giới được dự báo là chưa có dấu hiệu phục hồi vững chắc, thậm chí còn có các hoài nghi về khả năng suy thoái kép của kinh tế thế giới. Tuy nhiên, vấn đề giá cả nhiều khả năng sẽ hạ nhiệt, do nhu cầu gắn với tăng trưởng kinh tế thế giới chững lại. Thêm vào đó, mặt bằng giá NVL trên thế giới hiện cũng đã ở mức tương đối cao.

Trong nước, tăng trưởng kinh tế sẽ có nhiều thách thức. Một mặt là do các khó khăn chung của kinh tế thế giới và hoạt động thương mại, dịch vụ toàn cầu, mặt khác do sức tiêu dùng trong nước cũng đang ở mức thấp so với các năm trước. Vấn đề lạm phát năm 2012 nhiều khả năng được kiểm soát một cách thuận tiện hơn do giá thế giới hạ nhiệt; cung tiền năm 2011 được quản lý ở mức thận trọng, giảm mạnh so với các năm trước và tiếp tục được duy trì năm 2011; chủ trương giảm tốc độ tăng đầu tư công và sức mua trong nước đang ở mức tương đối thấp.CSTT năm 2012, do vậy, sẽ có dư địa, đồng thời cũng phải linh hoạt hơn nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của nền kinh tế.

Trước mắt, điều hành CSTT nên nhằm vào việc giảm LS, đảm bảo mức dư nợ và cơ cấu tăng trưởng hợp lý cho nền kinh tế. Nếu xu hướng đầu tư tư nhân và sức mua nội địa năm 2011 tiếp tục kéo sang năm 2012 thì các quá trình cải cách nền kinh tế sẽ khó thành hiện thực. Vấn đề là giảm LS cho vay như thế nào; làm thế nào để có mức dư nợ hợp lý và cơ cấu tăng trưởng hỗ trợ quá trình cải cách trong bối cảnh kinh tế thế giới không thuận tiện? Vấn đề thanh khoản của các NHTM vẫn hiện hữu. Các bất ổn trên thế giới và trong nước vẫn thường trực. LS do vậy khó có thể giảm nếu không có các can thiệp hành chính (mặc dù một số NHTM lớn đã giảm lãi suất cho vay theo các chương trình cụ thể). Tuy nhiên, nếu giảm trần LS huy động thì căng thẳng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng sẽ tiếp tục, nhất là đối với các ngân hàng nhỏ. Áp lực trên thị trường LNH sẽ lại hiện hữu, khi đó  áp lực đối với LS trên thị trường LNH lại tăng cao, NHNN khó theo đuổi mục tiêu giảm LS cho vay và nguồn vốn tín dụng nền kinh tế sẽ có nhiều hạn chế.  Bên cạnh đó, ngay cả khi áp trần LS huy động, các tác động tới LS cho vay cũng còn một khoảng cách xa. Do vậy, rất có thể sẽ phải tính đến giải pháp hành chính trực tiếp hơn trong việc giảm LS cho vay. 

Để đảm bảo tăng trưởng kinh tế từ 6 – 6,5%, trong bối cảnh tái đầu tư công, rà soát và thu hẹp  phạm vi đầu tư công ở các lĩnh vực, hạng mục khu vực tư nhân không thể hoặc không muốn thực hiện và đầu tư FDI có xu hướng chững lại, với các bất cập của trần tín dụng năm 2011 và thực tế dư nợ thấp hơn nhiều mức trần cho phép, thì rất có thể không cần đến một mức trần tín dụng cứng cho mọi NHTM trong năm 2012. NHNN có thể đặt mục tiêu chung trong quản lý tiền tệ và sử dụng các công cụ phù hợp để duy trì tổng dư nợ ở mức mục tiêu thay vì áp trần cứng đối với mỗi TCTD.

Định hướng tín dụng cũng có thể được rà soát, xem xét lại, theo đó, tín dụng khu vực xây dựng có thể được nới lỏng, do khu vực này đã bị tác động nặng nề, kéo theo các tác động tiêu cực nhất định về công ăn việc làm, nhu cầu nội địa, cũng như các vấn đề xã hội khác.

Các chính sách quản lý ngoại hối cũng vẫn là các vấn đề nòng cốt của việc ổn định hóa môi trường vĩ mô, lành mạnh hóa hệ thống tiền tệ ngân hàng, thực hiện các mục tiêu trên đất Việt Nam chỉ tiêu tiền Việt Nam. Ngoài các giải pháp xử lý tình trạng nguồn USD của đất nước nằm rải rác ngoài hệ thống tiền tệ, ngân hàng, dẫn đến thâm hụt cán cân tổng thể chính thức trong khi nguồn vốn vào lớn hơn thâm hụt tài khoản vãng lai, gây áp lực giả tạo lên tỷ giá, các chính sách tín dụng ngoại tệ cũng cần phải tiếp tục được điều chỉnh theo hướng hạn chế khoảng cách lợi ích của tín dụng ngoại tệ với tín dụng VND, xem đây là một trong hệ thống các giải pháp xử lý vấn đề đô la hóa nền kinh tế. 

Bên cạnh đó, CSTT cũng sẽ nhằm vào việc lành mạnh hóa hệ thống NHTM, các TCTD. Đây là vấn đề cốt lõi đối với bất kỳ một nền kinh tế nào, đặc biệt là đối với nước ta. Vấn đề sáp nhập, hợp nhất mới chỉ là một khía cạnh, chủ yếu là tăng qui mô, phạm vi, có thể đi kèm với giảm chi phí, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, đối tượng khách hàng của ngân hàng sau hợp nhất. Vấn đề cốt lõi nằm ở hệ thống quản trị NHTM. Tăng cường quản trị NHTM theo các tiêu chuẩn an toàn là định hướng đã được xác định và sẽ được thực hiện càng sớm càng tốt. Đi kèm với đó là hệ thống chế tài đủ mạnh, hệ thống thanh tra, kiểm tra, báo cáo có hiệu qủa, hiệu lực. Vấn đề phân khúc thị trường hoạt động của từng nhóm cũng là vấn đề cần phải xem xét, nhằm hạn chế cạnh tranh không lành mạnh và các tác động hệ thống, nhất là đối với ngân hàng, khu vực có tác động dây chuyền nhanh, trên qui mô rộng lớn./.