»

Giá vàng giao ngay thế giới 9h06' ngày 19/12: 144,62 USD/chỉ. Giá vàng 9999 tại Hà Nội 8h58' ngày 19/12 mua: 3512 nghìn đồng/chỉ, bán: 3529 nghìn đồng/chỉ. Chỉ số chứng khoán ngày 19/12: VN-Index: 523,09 - 5,36 HNX-Index : 81,32 - 1,38  Thời gian giao dịch phục vụ khách hàng tại các Chi nhánh, PGD, QTK của VietinBank – Từ thứ 2 tới thứ 6: Từ đầu giờ sáng tới 17h00 (trừ ngày lễ, tết).

Phương pháp đánh giá ngân hàng của CRA

Phạm Thị Thanh Nga
Sở giao dịch VietinBank

Cùng với quá trình hội nhập kinh tế, các ngân hàng không còn hoạt động bó gọn trong phạm vi quốc gia mà vươn ra khu vực và thế giới. Nếu như trong một quốc gia, do điều kiện địa lý gần gũi, môi trường kinh doanh quen thuộc, khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận thông tin của ngân hàng, các ngân hàng cũng dễ dàng tiếp cận thông tin của nhau,.v.v. từ đó đưa ra những quyết định đầu tư, kinh doanh đúng đắn thì trong môi trường kinh doanh quốc tế, việc tiếp cận những thông tin này trở nên khó khăn hơn nhiều. Chính vì vậy, chính phủ, ngân hàng, doanh nghiệp khi cần thông tin thường dựa vào các chỉ số xếp hạng tín dụng cung cấp bởi các cơ quan xếp hạng tín dụng (Credit Rating Agencies – CRA), trong đó có xếp hạng tín dụng ngân hàng.

Bài viết sẽ giới thiệu về CRA, tác dụng của các chỉ số xếp hạng tín dụng (Issuer Credit Rating – ICR); khái quát về phương pháp phân tích để đánh giá một ngân hàng của Standard&Poor’s (S&P) – một CRA lớn nhất thế giới; cuối cùng, đưa ra những vấn đề đang tranh luận về tính chính xác của các ICR.

1. CRA và tác dụng của các ICR
CRA là cơ quan chuyên xếp hạng tín nhiệm đối với các đơn vị phát hành nợ/chứng khoán (bao gồm các chính quyền trung ương, địa phương, các tổ chức phi lợi nhuận, các công ty,.v.v.), các đơn vị cung cấp dịch vụ dưới nợ hoặc đối với bản thân các loại nợ/chứng khoán. Việc xếp hạng tín nhiệm đối với một đơn vị phát hành nợ bao gồm việc xem xét giá trị của các loại nợ của đơn vị phát hành này (như khả năng trả nợ) và ảnh hưởng của lãi suất áp dụng đến loại chứng khoán được phát hành.

Có hàng ngàn CRA đang hoạt động trên toàn thế giới, nhưng lĩnh vực này vẫn được xem là hoạt động trong thị trường độc quyền nhóm khi chỉ có 3 đơn vị lớn là S&P, Moody’s và Fitch Group chi phối đến 95% thị phần toàn cầu và 97% thị phần tại Mỹ. Mỗi CRA đều có quy trình nội bộ để đưa ra được các đánh giá của mình. Nhưng nhìn chung, quy trình đánh giá sẽ qua 7 bước như sau: Nhận đề nghị xếp hạng từ khách hàng; Đánh giá sơ bộ; Làm việc, thu thập thông tin từ khách hàng; Phân tích; Đánh giá và thông qua trong nội bộ CRA; Thông báo tới khách hàng; Công bố kết quả xếp hạng ra công chúng.

Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu đánh giá một cách khách quan về tình hình hoạt động, triển vọng phát triển, vị thế tín dụng để ra các quyết định đầu tư, mua bán và sáp nhập, tài trợ tín dụng, hợp tác hay cung ứng hàng hóa ngày càng nhiều, đa dạng và phức tạp hơn. Sử dụng các kết quả xếp hạng được ưa chuộng vì đây là cách tiết kiệm nhất để có được các thông tin đầy đủ liên quan. Đối với một ngân hàng, có một chỉ số xếp hạng tốt đồng nghĩa với việc sẽ đem lại khả năng huy động được các nguồn vốn trong nước, ngoài nước một cách dễ dàng hơn, giá rẻ hơn các ngân hàng khác đồng thời cũng gia tăng giá trị của chính ngân hàng thông qua giá cổ phiếu của ngân hàng đó trên thị trường chứng khoán.

2.Phương pháp phân tích để đánh giá ngân hàng của S&P
Phương pháp của S&P bao gồm 3 bước chính: Thứ nhất, tính chỉ số sức mạnh tài chính độc lập của ngân hàng (Stand Alone Credit Profile  - SACP); thứ hai, xem xét các yếu tố hỗ trợ đến hoạt động của ngân hàng; cuối cùng, kết hợp 2 bước trên để đưa ra chỉ số ICR.

2.1. Tính chỉ số SACP
Chỉ số SACP được tính toán dựa vào 6 yếu tố: rủi ro nền kinh tế; rủi ro ngành; vị thế kinh doanh; vốn và doanh thu; khả năng chịu đựng rủi ro; và tính thanh khoản. 2 yếu tố rủi ro của nền kinh tế và rủi ro ngành sau khi xem xét sẽ tạo ra chỉ số rủi ro Ngành và Quốc gia tác động đến ngân hàng (BICRA). Chỉ số này thể hiện điểm mạnh và điểm yếu của môi trường hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung. 4 yếu tố còn lại đưa ra điểm mạnh, điểm yếu của ngân hàng được đánh giá. Dựa vào tính toán của cơ quan xếp hạng mà chỉ số SACP lúc này sẽ được cộng/trừ một số điểm số nhất định.

- Rủi ro nền kinh tế
Các yếu tố gồm: tính ổn định và phù hợp trong cơ cấu của nền kinh tế, độ linh hoạt của các chính sách kinh tế, sự mất cân đối trong hiện tại và khả năng có thể xảy ra trong tương lai của nền kinh tế, những rủi ro tín dụng đến từ các thành phần kinh tế khác nhau, v.v được xem xét và tổng hợp để cho các điểm số từ nhóm 1 (ít rủi ro nhất) đến nhóm 10 (rủi ro cao nhất). Nói cách khác, S&P đánh giá thông qua tiềm năng phát triển đa chiều của nền kinh tế một quốc gia cũng như khả năng mà hệ thống ngân hàng có thể thích ứng với những sự phát triển đó, đồng thời xem xét các yếu tố liên quan đến người vay nói riêng và khách hàng của ngân hàng nói chung. Khi mà ngân hàng hoạt động ở các quốc gia khác nhau, phương pháp tính trung bình gia quyền sẽ được áp dụng nhằm đưa ra điểm số rủi ro nền kinh tế trung bình.

- Rủi ro ngành
Tùy thuộc vào hoạt động kinh doanh chính của từng ngân hàng là cho vay, huy động vốn và quản lý các khoản tiết kiệm hay đầu tư, hoạt động thương mại mà cách tiếp cận rủi ro ngành của S&P cũng khác nhau. Tại bước phân tích này, các yếu tố mang tính chất cơ cấu ngành ngân hàng của một quốc gia như: chất lượng và hiệu quả của hệ thống luật, quy định trong ngành ngân hàng; hệ thống lưu trữ dữ liệu của các cấp quản lý có thẩm quyền; môi trường cạnh tranh; các sản phẩm, dịch vụ tài chính; vai trò của các định chế tài chính phi ngân hàng.v.v. được xem xét. Rủi ro của ngành ngân hàng cũng được đánh giá thông qua sự phát triển, sẵn có của các sản phẩm tài chính phức tạp, bao gồm các sản phẩm tài chính phái sinh trên thị trường. Càng nhiều các sản phẩm tài chính phái sinh trên thị trường sẽ tỷ lệ thuận với rủi ro của ngành. Thêm nữa, rủi ro của ngành cũng bao gồm những khả năng tài trợ sẵn có đối với ngân hàng của một quốc gia, bao gồm vai trò của ngân hàng trung ương và chính phủ. Rủi ro ngành cũng được xác định từ nhóm 1 (ít rủi ro nhất) đến nhóm 10 (rủi ro cao nhất).

- Vị thế kinh doanh
Gồm 4 yếu tố: vốn tài trợ, sự ổn định trong kinh doanh, mức độ tập trung hay phân tán trong hoạt động kinh doanh, chiến lược quản lý và hợp tác của ngân hàng được đánh giá thông qua tính toán hàng loạt tỷ lệ liên quan. Hiệu quả vốn tài trợ được đo lường thông qua các chỉ số: Tỷ lệ dư nợ/ nguồn vốn, những khoản tài trợ bán buôn trong ngắn hạn và tỷ lệ tài trợ tổng thể. Sự ổn định trong kinh doanh được xem xét bằng doanh thu, thị phần và danh mục khách hàng. Mức độ tập trung hay phân tán trong hoạt động kinh doanh được tính bằng đóng góp của doanh thu theo các sản phẩm dịch vụ khác nhau, các khu vực địa lý khác nhau vào tổng doanh thu. Tác động của việc hoạch định chiến lược đối với hiệu quả của hoạt động kinh doanh, quản lý tài chính và các chính sách quản lý, chính sách tài khóa của ngân hàng là thước đo cho hiệu quả của chiến lược quản lý và hợp tác.
Mặc dù S&P xem xét độc lập 4 yếu tố này, nhưng khi 1 yếu tố bị đánh giá thấp hơn trước cũng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến những yếu tố còn lại. Vị thế kinh doanh được xếp hạng theo 6 mức: Rất tốt/ Tốt/ Tương đối tốt/ Bình thường/Yếu/ Rất yếu tương ứng với các điểm cộng/ trừ vào chỉ số SACP: + 2 điểm/ + 1 điểm/ 0 điểm/ - 1 điểm/ -2 điểm đến – 3 điểm/ - 5 điểm.

- Vốn và doanh thu
S&P đánh giá vốn và doanh thu bằng cách xem xét các yêu cầu về quản lý, mức độ, chất lượng của vốn cũng như doanh thu. Vốn và doanh thu được xếp hạng theo 6 mức: Rất tốt/ Tốt/ Tương đối tốt/ Bình thường/Yếu/ Rất yếu tương ứng với các điểm cộng/trừ vào chỉ số SACP: + 2 điểm/ + 1 điểm/ 0 điểm/ - 1 điểm/ -2 điểm đến – 3 điểm/ - 5 điểm

- Khả năng chịu đựng rủi ro
Nhằm xem xét những rủi ro cụ thể có thể xảy ra đối với ngân hàng theo những giả định chuẩn mà S&P đã sử dụng trong quá trình phân tích về vốn và doanh thu. Khả năng chịu đựng rủi ro được xếp hạng theo 6 mức: Rất tốt/ Tốt/ Tương đối tốt/ Bình thường/Yếu/ Rất yếu tương ứng với các điểm cộng/trừ vào chỉ số SACP: + 2 điểm/ + 1 điểm/ 0 điểm/ - 1 điểm/ -2 điểm/ - 5 điểm

- Tính thanh khoản
Nhằm đánh giá khả năng quản lý thanh khoản của ngân hàng trong điều kiện kinh tế, thị trường thay đổi cũng như khả năng ứng phó của ngân hàng trong những giai đoạn tiếp theo với những điều kiện thay đổi như vậy. Tính thanh khoản được xếp hạng theo 4 mức: Tốt/ Tương đối tốt/ Thấp hơn tương đối tốt/ Yếu tương ứng với các điểm cộng/trừ vào chỉ số SACP: + 1 điểm/ 0 điểm/ -2 điểm/ - 5 điểm

2.2. Xem xét các yếu tố hỗ trợ
Các yếu tố hỗ trợ quan tâm đến mối quan hệ giữa ngân hàng với công ty mẹ, tập đoàn của ngân hàng đó hoặc với chính phủ và xem xét liệu mối quan hệ này có ảnh hưởng như thế nào đến sức mạnh tài chính độc lập của ngân hàng được đánh giá. Nếu S&P tin rằng ngân hàng sẽ nhận được thêm vốn, hỗ trợ về thanh khoản, v.v từ công ty mẹ, tập đoàn hoặc từ chính phủ khi có khủng hoảng xảy ra thì chỉ số ICR đưa ra sẽ cao hơn SACP khi tính độc lập. S&P xem xét khả năng hỗ trợ từ công ty mẹ, tập đoàn, từ chính phủ, lượng hóa thành hai số điểm (a, b), và lựa chọn điểm số lớn hơn để cộng vào chỉ số SACP, tạo ra chỉ số ICR tạm tính (potential ICR).

2.3. Đưa ra chỉ số ICR
Nếu chỉ số ICR tạm tính thấp hơn chỉ số xếp hạng tín dụng ngoại tệ quốc gia thì đây chính là chỉ số ICR của ngân hàng được đánh giá. Trong trường hợp ngược lại, thì một số yếu tố khác sẽ được xem xét tiếp để xác định lại chỉ số ICR, cụ thể là: (1) Liệu ngân hàng có đủ vốn và thanh khoản để chịu được áp lực khi xảy ra vỡ nợ ngoại tệ; (2) Đặc điểm của ngân hàng, độ linh hoạt của chính sách, những bằng chứng trong quá khứ cho thấy việc vỡ nợ ngoại tệ không ảnh hưởng đến nguồn lực của ngân hàng, ngân hàng không cần hỗ trợ khi có tình trạng vỡ nợ ngoại tệ xảy ra; (3) ngân hàng có cân bằng tài sản dương; (4) Ngân hàng có tỷ lệ vốn vay, tài sản dưới áp lực vỡ nợ thấp; (4) Doanh thu, vốn và các tỷ lệ khác cao hơn các ngân hàng xếp hạng tương tự tại quốc gia có nền kinh tế mạnh hơn theo đánh giá cùng phương pháp ở bên trên. Trong trường hợp ngân hàng không đáp ứng được các yếu tố trên, ICR sẽ được giới hạn bằng chỉ số xếp hạng tín dụng ngoại tệ quốc gia.

Chỉ số ICR của ngân hàng bao gồm các mức giảm dần từ AAA đến D. Nếu một ngân hàng có chỉ số ICR là AAA có nghĩa là ngân hàng đó có đầy đủ khả năng để trả các nghĩa vụ tài chính của mình. Ngược lại, nếu ngân hàng đó có chỉ số ICR là D có nghĩa là ngân hàng đó đã không có khả năng trả các nghĩa vụ tài chính của mình trong hiện tại cũng như trong tương lai.

3. Kết quả xếp hạng tín dụng có đáng tin cậy?
Có rất nhiều tranh luận về tính khách quan của các kết quả xếp hạng tín dụng được đưa ra, xuất phát trước tiên là do hình thức hoạt động của các CRA. Trước thập niên 1970, các CRA tồn tại nhờ vào việc bán xếp hạng tín nhiệm cho nhà đầu tư để họ biết về độ an toàn các khoản nợ mà họ đang nắm giữ. Sau này, các CRA chuyển sang mô hình lấy tiền của tổ chức phát hành, nghĩa là tổ chức muốn phát hành trái phiếu hay các dạng thức vay nợ khác thì phải trả phí cho các CRA để được xếp hạng.

Vai trò của các CRA trở nên quan trọng hơn khi các mức xếp hạng không chỉ được sử dụng trong hoạt động đầu tư và huy động vốn, mà còn được sử dụng trong việc hoạch định các chính sách. Chẳng hạn ở Mỹ, cơ quan quản lý cho phép các tổ chức tài chính giữ một phần dự trữ vốn của mình ở dạng các trái phiếu có độ an toàn cao được chứng nhận bởi các xếp hạng tín nhiệm cao. Với mô hình kinh doanh như vậy nên có ý kiến cho rằng các CRA có thể thỏa hiệp đưa ra các mức xếp hạng cao để giành khách hàng và thu phí. Giới nghiên cứu từ lâu đã nghi ngờ có thể có ngân hàng sẵn lòng trả giá cao cho những mức xếp hạng cao. So với chi phí phải trả cho thị trường thì mức phí trả cho các CRA thấp hơn nhiều, nhất là đối với những đợt phát hành trái phiếu và sản phẩm phái sinh lớn.

Có thể nói, xếp hạng tín dụng rất quan trọng đối với việc kinh doanh của các doanh nghiệp sử dụng kết quả xếp hạng và các chủ thể được xếp hạng, đặc biệt là các ngân hàng. Ở Việt Nam, trong tương lai, đây thực sự là một lĩnh vực hứa hẹn sẽ phát triển nhanh và mạnh để đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập của nền kinh tế nước nhà.

Tài liệu tham khảo:
- Yoko Ogimoto, 2009 – Xếp hạng tín nhiệm ở Việt Nam
http://www.standardandpoor.com/ratingsdirect: Phương pháp đánh giá ngân hàng (Banks: Rating Methodology)
http://rating.com.vn/:  Các phương pháp xếp hạng tín dụng doanh nghiệp điển hình trên thế giới
http://www.fitchratings.com/
http://www.moodys.com