»

Giá vàng giao ngay thế giới 9h01' ngày 28/7: 157,21 USD/chỉ. Giá vàng 9999 tại Hà Nội 8h37' ngày 28/7 mua: 3662 nghìn đồng/chỉ, bán: 3676 nghìn đồng/chỉ. Chỉ số chứng khoán ngày 28/7: VN-Index: 589,45 - 10,69 HNX-Index: 77,73 - 1,70 Thời gian giao dịch phục vụ khách hàng tại các Chi nhánh, PGD, QTK của VietinBank – Từ thứ 2 tới thứ 6: Từ đầu giờ sáng tới 17h30 (trừ ngày lễ, tết).

Những nhân tố cơ bản của tỷ giá hối đoái thực dài hạn

ThS. Vũ Anh Đức
Phòng Đầu tư VietinBank

I. Các khái niệm cơ bản
1. Tỷ giá (TG) hối đoái: Khái niệm TG thường được hiểu là giá của một đồng tiền này so với một đơn vị  đồng tiền khác. Các nhà kinh tế học thường phân biệt 2 loại TG đó là TG hối đoái danh nghĩa và TG hối đoái thực:
- TG hối đoái danh nghĩa: là giá tương đối của một đồng tiền phải tính bằng đồng tiền khác.
- TG hối đoái thực: là TG hối đoái danh nghĩa đã được điều chỉnh cho phù hợp với các mức giá tương đối giữa hai nước (Keith Pilbeam, 1992).

Trong đó: e: TG hối đoái thực;  e: TG hối đoái danh nghĩa; P: giá hàng hoá trong nước; P*: giá hàng hoá nước ngoài.

2. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
CPI là giá của một rổ hàng hoá và dịch vụ của một năm so với giá của một rổ hàng hoá và dịch vụ tương tự ở một năm nhất định.

3. Quy luật một giá (LOP) và lý thuyết ngang bằng sức mua (PPP)
Quy luật LOPphát biểu rằng: hàng hóa như nhau sẽ được bán với cùng một mức giá tại các thị trường khác nhau được thể hiện bằng cùng một loại tiền chung trong điều kiện canh tranh của thị trường, không tồn tại chi phí vận chuyển, không tồn tại hàng rào thương mại (TM).

Lý thuyết PPPphát biểu rằng: TG giữa hai đồng tiền sẽ ở tại vị trí cân bằng khi sức mua của chúng là như nhau tại mỗi nước. Điều này có nghĩa là TG giữa hai nước sẽ bằng với tỷ lệ của mức giá của một giỏ hàng hoá và dịch vụ cố định tại hai nước. Khi mức giá trong nước tăng (ví dụ như lạm phát), thì TG hối đoái tại nước đó phải tăng (đồng tiền nước đó sụt giá) để quay về điểm cân bằng như PPP đã nêu.

II. Xác định TG hối đoái thực trong dài hạn
1. Lý thuyết về việc xác định TG hối đoái thực
Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau đề cập đến nội dung này, tuy nhiên  chúng ta sẽ xem xét hai cách tiếp cận phổ biến nhất, đó là cách tiếp cận tiền tệ và cách tiếp cận thực. Cách tiếp cận thực liên quan tới sự dịch chuyển của TG thực xảy ra do sự khác biệt giữa mức giá của hàng hoá TM được và hàng hoá không TM được. Cách tiếp cận tiền tệ chủ yếu tập trung vào mối quan hệ giữa TG thực và lãi suất (LS) thực.
Cách tiếp cận thực: TM được và không TM được
Từ phương trình ở trên lấy log hai vế, ta có:
Log(e) = Log(e)+Log(P)-Log(P*)  (1)
Ta có,  P = aPN+(1-a)PT  (2)
P* = bP*N+(1-b)P*T   (3)
Trong đó: PN , PT  là giá hàng hoá trong nước không TM được và TM được; P*N , P*T là giá hàng hoá nước ngoài không TM được và TM được.
Theo LOP áp dụng cho hàng hoá TM được, ta có:
Log(e) = Log(P*T)-Log(PT) (4), với Log(e) là logarithm của TG hối đoái danh nghĩa.
Ta thay phương trình (2), (3), (4) vào phương trình (1), ta có
Log(e)  = -a(LogPT – LogPN) + b(LogP*T – LogP*N) (5)
Từ phương trình trên ta thấy TG thực phụ thuộc vào mức giá tương đối giữa khu vực hàng hoá TM được và khu vực hàng hoá không TM được cũng như quy mô của khu vực hàng hoá không TM được tại hai quốc gia. Phương trình này kiểm tra xem sự thay đổi trong mức giá của hàng hoá TM được và không TM được có gây ra sự dịch chuyển của TG thực hay không.

Cách tiếp cận tiền tệ
Cách tiếp cận tiền tệ tập trung vào việc phân tích mối quan hệ giữa TG thực và LS thực. Cách tiếp cận này đã được nghiên cứu bởi Dornbusch (1976), Frankel (1979) và Hopper Morton (1982) nhưng chúng ta chỉ đi nghiên cứu một mô hình có tên là “Sticky price” do Dornbusch xây dựng vào năm 1976. Dornbusch giả định rằng giá hàng hoá là rất khó điều chỉnh để phản ứng với cú sốc của thị trường, chẳng hạn sự thay đổi cung tiền. Do có cú sốc của thị trường, TG thay đổi ngay lập tức. Nó có thể tăng hay giảm. Trong hoàn cảnh đó, sự thay đổi trong TG chưa chắc đã phù hợp với sự dịch chuyển tương ứng của sự thay đổi trong mức giá. Vì vậy, sẽ tồn tại một sự chệch trong TG thực so với giá trị cân bằng trong dài hạn (như đã nêu trong lý thuyết PPP).

2. Một số mô hình về việc xác định TG thực
Mô hình Balassa-Samuelson. Năng suất lao động (NSLĐ) là nội dung chính trong mô hình. Mô hình gắn với sự dịch chuyển của TG thực trong dài hạn, kiểm định xem sự dịch chuyển của TG thực có đúng như lý thuyết PPP phát biểu hay không?
Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng NSLĐ của các nước phát triển cao hơn so với các nước đang phát triển. Sự khác biệt trong NSLĐ xảy ra phần lớn trong khu vực hàng hoá TM được so với khu vực hàng hoá không TM được. Theo như giả định của mô hình, mức lương trong khu vực hàng hoá TM được và không TM được là như nhau tại mỗi quốc gia và chúng liên quan mật thiết với NSLĐ. Hơn nữa, mức lương tác động đến giá cả và mức lương được xác định bởi NSLĐ.
Người ta cho rằng, lý thuyết PPP chỉ dựa vào khu vực hàng hoá TM được thì không thể giải thích được một cách chính xác và đầy đủ sức mua của người dân tại nước nghèo. Rõ ràng là, người dân ở nước nghèo sẽ mua nhiều hàng hoá không TM được trên một đơn vị đồng tiền nước ngoài hơn là một người dân sống ở nước giầu. Vì thế, sử dụng lý thuyết PPP với duy nhất khu vực hàng hoá TM được xét theo đồng tiền nước ngoài để giải thích sức mua là chưa đầy đủ và không chính xác.
Tóm lại, mô hình cũng cung cấp một số ứng dụng trong việc giải thích sự trệch khỏi lý thuyết PPP xét theo khía cạnh các chỉ số giá giữa các nước phát triển. Nhưng do giả định của mô hình, nó không thể giải thích được thất bại của lý thuyết PPP trong việc giải thích cho khu vực hàng hoá TM được.

Mô hình sự khác biệt trong LS thực của Frankel: Không giống như mô hình “Sticky price” do Dorcbusch xây dựng, Frankel (1979) đã phát triển một mô hình được gọi là mô hình TG tiền tệ chung nhằm điều chỉnh mô hình “Flexible price” và mô hình “Sticky price”.
Như đã nêu trong lý thuyết PPP, cân bằng TG thực trong dài hạn s* (được viết dưới dạng log) là sự chênh lệch giữa mức giá dài hạn của hai nước (dạng log), s* = p-p*. Hơn nữa, do TG cân bằng trong dài hạn, bất kỳ một sự khác biệt nào trong TG danh nghĩa đều được giải thích bởi sự khác biệt trong tỷ lệ lạm phát ổn định, r-r*=P*e-P*e*

Phương trình trên cho thấy, TG cân bằng dài hạn được xác định bởi sự khác biệt trong cung tiền và cầu tiền giữa hai nước. Nhưng trong ngắn hạn việc giải thích sẽ khác do “sticky price”. Frankel nhấn mạnh rằng tỷ lệ điều chỉnh của thị trường hàng hoá có liên quan tới việc xác định TG trong  ngắn hạn.

với m là log lượng tiền, p là log mức giá, y là log của thu nhập thực tế, r là log của LS danh nghĩa, q là tốc độ điều chỉnh tới điểm cân bằng và dấu * đại diện cho nước ngoài.
Như được nêu trong phương trình trên, TG trong ngắn hạn vượt quá giá trị cân bằng của nó trong dài hạn. Theo như công thức mà Frankel xây dựng thì một tập hợp những mức LS thực không cân bằng thì TG thực trong dài hạn sẽ trệch khỏi giá trị cân bằng dài hạn của nó.

Mô hình Cân bằng các khoản danh mục đầu tư
Bằng việc chấp nhận những đặc điểm khác nhau của trái phiếu trong nước và nước ngoài, hoạt động của các nhà đầu tư theo những cách khác nhau tác động đến TG.  3 hoạt động thường có tác động lên TG, đó là hoạt động thị trường mở, hoạt động ngoại hối và hoạt động cân bằng ngoại hối. Mô hình sẽ đạt tới điểm cân bằng nếu ba thị trường tài sản là cân bằng tại một mức LS và TG hợp lý.

II. Một số nhận xét với trường hợp Việt Nam
1. Nhận xét chung
Tại Việt Nam, lý thuyết PPP không còn đúng trong dài hạn đối với trường hợp nghiên cứu những nhân tố tác động đến TG thực giữa USD và VND. Phân tích định lượng chỉ ra rằng những cải cách trong TG danh nghĩa, thay đổi mức giá trong và ngoài nước đã gây ra những thay đổi trong TG thực dài hạn. Thực tế nghiên cứu chỉ ra rằng chính sự tăng trưởng khác nhau của NSLĐ trong khu vực hàng hoá TM được và không TM được dẫn đến sự thay đổi trong TG thực giữa đồng VND và USD. TG thực sẽ tăng giá nếu như sự chênh lệch NSLĐ giữa khu vực hàng hoá không TM được và TM được tăng.
Ngoài ra, TG thực cũng bị tác động bởi chi phí lao động giữa các nước. Sự thay đổi trong việc tăng giá bán trong dài hạn khiến các hãng kinh doanh trong khu vực hàng hoá TM được điều chỉnh giá bán theo mức giá thị trường. Điều này cũng dẫn tới sự dịch chuyển trong TG thực dài hạn. TG thực trong dài hạn bị mất giá khi mà những thay đổi trong xu hướng tăng giá bán tăng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp sự khác biệt tăng giá bán chỉ mang đến những gợi ý ban đầu phục vụ cho các nghiên cứu sâu hơn về thay đổi của TG thực.
Nhìn chung, TG danh nghĩa và các mức giá tương đối ở cả hai nước tác động đến sự dịch chuyển của TG thực. Sự khác biệt trong tăng trưởng NSLĐ cũng khiến cho mức giá là khác nhau giữa các nước và như vậy TG thực bị đẩy lên. Điều này tạo áp lực lên tỷ lệ tăng trưởng mức lương và như vậy xét bình quân thì TG thực bị mất giá.

2. Một số khuyến nghị
Khi xác định mức TG danh nghĩa, chúng ta cần quan tâm thêm đến mức chỉ số giá không chỉ của Việt Nam mà còn của các nước có quan hệ TM chính với Việt Nam.
Để ổn định TG thực và tăng cường quan hệ TM với thế giới, Việt Nam cần đẩy mạnh NSLĐ lên trong khu vực hàng hoá TM được, làm cho sự chênh lệch NSLĐ giữa khu vực hàng hoá TM được và không TM được nhỏ lại.
Quản lý và ổn định việc tính chi phí lao động sẽ giúp cho mức giá ổn định. Điều này sẽ khiến đồng tiền trong nước được ổn định và trong dài hạn sẽ giúp đồng tiền tăng giá.
Để có  một chính sách quản lý ngoại hối hiệu quả, Việt Nam cần có biện pháp theo dõi và phân tích sự khác nhau trong việc tăng giá bán giữa các nước có quan hệ TM mật thiết với Việt Nam./.