»

Giá vàng giao ngay thế giới 9h32' ngày 20/10: 149,07 USD/chỉ. Giá vàng 9999 tại Hà Nội 8h15' ngày 20/10 mua: 3576 nghìn đồng/chỉ, bán: 3590 nghìn đồng/chỉ. Chỉ số chứng khoán ngày 17/10: VN-Index: 585,28 - 1,88 HNX-Index : 87,64 + 0,44  Thời gian giao dịch phục vụ khách hàng tại các Chi nhánh, PGD, QTK của VietinBank – Từ thứ 2 tới thứ 6: Từ đầu giờ sáng tới 17h00 (trừ ngày lễ, tết).

Thị trường tài chính Việt Nam năm 2009 và những vấn đề đặt ra cho năm 2010

PGS.TS. Nguyễn Thị Mùi - ThS. Trịnh Thanh Huyền
Trường Đào tạo và PTNNL VietinBank

1. Vài nét về thị trường tài chính Việt Nam năm 2009
Nền kinh tế thế giới đã bước sang một năm mới với bộn bề những việc cần tiếp tục triển khai giai đoạn hậu khủng hoảng. Những bất ổn vĩ mô và vi mô luôn đe dọa khiến thị trường tài chính (TTTC) thế giới phát triển trong điều kiện đầy khó khăn, thách thức. Tháng cuối cùng của năm 2009, Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ Ben Bernanke đã thừa nhận, tuy nền kinh tế đầu tầu thế giới không bị rơi vào cuộc suy thoái kép nhưng vẫn còn quá sớm để khẳng định kinh tế Mỹ đã ra khỏi đáy của khủng hoảng. Khu vực Euro tuy có dấu hiệu khởi sắc, nhưng vẫn chưa đủ để Ngân hàng Trung ương Châu Âu thay đổi mức lãi suất cơ bản 1%/năm. Sự chững lại của đất nước “mặt trời mọc” do đồng yên mạnh và giá tiêu dùng liên tục sụt giảm, buộc Nhật Bản phải đưa ra gói kích thích kinh tế tiếp theo vào ngày 8/12/2009 lên tới 24.400 tỷ yên - khoảng 274 tỷ USD.
Nhưng nhìn lại một năm qua đối với nền kinh tế Việt Nam, đà suy thoái đã được ngăn chặn từ quý II/2009 và đã có sự bứt phá: tỉ lệ lạm phát kiềm chế ở mức 6,52%; GDP đã tăng 5,32% i. Mặc dù là mức tăng thấp nhất trong 10 năm qua, nhưng nếu đặt trong bối cảnh thế giới toàn cầu đang suy thoái, thì mới thấy sự cố gắng rất lớn của các thành phần kinh tế, của mỗi người dân Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Chính phủ.
Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam vẫn có tốc độ tăng trưởng rất ấn tượng với tổng giá trị vốn hóa thị trường khoảng 669.000 tỷ đồng, tương đương với 55% GDP, tăng gần gấp 3 lần so với cuối năm 2008. Chỉ số VnIndex đã tăng 110% so với đầu năm.
Song xem xét một cách toàn diện thì TTTC Việt Nam vẫn còn nhiều bất ổn. TTCK tuy đã khởi sắc nhưng vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, mà điển hình là tình trạng biến động giá quá thất thường. Diễn biến giá vàng và ngoại tệ làm không ít nhà đầu tư nhỏ và vừa mệt mỏi với những mức giá ngoài sức tưởng tượng. Thặng dư thương mại của Việt Nam tuy đã đạt được ở những tháng đầu năm, do sự sụt giảm mạnh của nhập khẩu. Nhưng khi nhu cầu thương mại nội địa được phục hồi, cán cân thương mại của Việt Nam lại thâm hụt trở lại. Tín dụng tăng trưởng cao so với tốc độ tăng GDP ii, tỷ giá hối đoái trên thị trường luôn kịch trần. Sức ép lạm phát vào những tháng cuối năm gia tăng, đã buộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) phải đưa ra một số biện pháp để kiểm soát chặt chẽ tín dụng tiêu dùng, cho vay chứng khoán và bất động sản, cũng như giảm tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn đối với từng tổ chức tín dụng (TCTD) iii, để một mặt giúp các TCTD đảm bảo an toàn thanh khoản, mặt khác phát đi tín hiệu kiềm chế tốc độ tăng trưởng tín dụng nóng của các TCTD.
* Trên thị trường tiền tệ (TTTT)
Năm 2009 được coi là một năm có nhiều biến động đối với TTTT. Có thể nói Việt Nam đã vượt qua đáy suy thoái kinh tế, nhưng TTTT vẫn không ổn định do độ co dãn hẹp, mức độ rủi ro cao. Mặc dù lãi suất cơ bản được giữ khá lâu ở mức 7% để kích cầu, nhưng điều này cũng không giảm được những biến động trên TTTT. Lãi suất và tỷ giá liên tục biến động với nhiều dấu hiệu bất thường. Không ít thời điểm, tỷ giá trên thị trường tự do có độ vênh lớn so với thị trường chính thức, khiến cho tình trạng đôla hóa nền kinh tế càng tăng, tạo điều kiện cho hoạt động găm giữ, đầu cơ, lũng đoạn thị trường, tác động xấu đến thị trường ngoại hối. Vì vậy, NHNN đã phải liên kết với một số Bộ/Ngành, UBND Tp. Hà Nội, Tp.HCM tăng cường kiểm soát hoạt động mua bán ngoại tệ, vàng trên thị trường tự do. Bên cạnh đó, NHNN cũng đã phải điều chỉnh tỷ giá lần thứ hai bằng cách nâng tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ 17.034 lên 17.961VND/ USD, cùng với việc thu hẹp biên độ từ +/-5% xuống +/-3% vào ngày 25/11/2009. Mục tiêu của lần điều chỉnh này nhằm bình ổn giá USD trên thị trường, làm cho tỷ giá hối đoái do NHNN công bố phản ánh sát hơn tín hiệu thị trường. Việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái đã tác động không nhỏ tới sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp (DN). Trong khi các DN xuất khẩu có phần hưởng lợi từ tăng tỷ giá, thì đa số các DN khác, đặc biệt là các DN nhập khẩu, cùng với các tổ chức, cá nhân... đều chịu áp lực chính từ sự tăng giá của USD. Trước tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về cung cầu do một lượng lớn ngoại tệ được hút vào sàn giao dịch vàng, cũng như các DN có ngoại tệ thu được từ hoạt động kinh doanh lại găm trên tài khoản, không bán cho các ngân hàng. Vì vậy Chính phủ  phải dùng biện pháp hành chính yêu cầu 6 Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước phải bán ngoại tệ cho ngân hàng để tăng cung cho thị trường, các ngân hàng thương mại (NHTM) có trạng thái ngoại tệ âm, sẽ được NHNN bán ngoại tệ để đảm bảo tính thanh khoản. Sau những điều chỉnh này, cung cầu ngoại tệ trên thị trường đã có những chuyển biến tích cực hơn, tỷ giá niêm yết mua, bán USD/VND của các NHTM gần sát với tỷ giá hối đoái trên thị trường.
Năm 2009 cũng chứng kiến sự tăng giá của vàng, với 18-19 triệu đồng/lượng những tháng đầu năm, nhưng đến cuối năm đã ở mức 27-29 triệu đồng/lượng. Loại trừ yếu tố tăng giá của thị trường thế giới, thì giá vàng trong nước cũng diễn biến quá phức tạp, chịu nhiều tác động bởi yếu tố kỳ vọng vào sự mất giá của tiền đồng, của những tin đồn và tâm lý đám đông. Vì thế, ngay sau quyết định cho phép một số DN được nhập khẩu vàng của NHNN đầu tháng 11/2009, giá vàng trong nước đã đột ngột giảm hơn 2 triệu đồng/lượng chỉ trong một vài giờ. Việc mở sàn vàng và cho phép một số nhà đầu tư kinh doanh vàng trên tài khoản trong nước cũng như nước ngòai nhưng lại thiếu một cơ chế giám sát, nên một lượng ngoại tệ không nhỏ được các nhà đầu tư gom để thanh toán cho nước ngoài. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản thao túng giá ngoại tệ, gây khó khăn cho NHNN trong việc quản lý ngoại hối và can thiệp thị trường khi cần thiết. Trước thực trạng bất cập về quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực này, ngày 30/12/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ký văn bản số 369/TB-VPCP yêu cầu không được tổ chức và thực hiện việc kinh doanh vàng trên tài khoản trong nước dưới mọi hình thức iv để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý quản lý chặt chẽ kinh doanh vàng trên tài khoản ở Việt Nam hiện nay.
* Trên thị trường tín dụng (TTTD)
Tuy không dồn dập với những sự kiện bất thường như năm 2008 nhưng năm qua cũng là một năm kinh doanh không mấy thuận lợi đối với các DN nói chung và hệ thống NHTM nói riêng, đặc biệt là trong những tháng đầu năm. Nhưng nhờ các chính sách kích thích kinh tế của Chính phủ, sự điều hành thận trọng của NHNN cùng với những nỗ lực của các NHTM, DN, nên từ quý II/2009, những khó khăn đã giảm bớt và hệ thống ngân hàng Việt Nam đã vượt qua được tác động xấu của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Việc duy trì lãi suất cơ bản ở mức 7% (sơ đồ 1) khá lâu khiến cho hoạt động ngân hàng có nhiều lúc rất khó khăn do chênh lệch đầu vào với đầu ra trong hoạt động tín dụng quá thấp. Mặc dù vậy, nhưng hệ thống ngân hàng vẫn cố gắng phát huy vai trò là kênh truyền dẫn vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là dòng vốn hỗ trợ lãi suất của Chính phủ với dư nợ đạt trên 450.000 tỷ đồng, chiếm hơn ¼ tổng dư nợ của toàn hệ thống. Nếu nhìn vào Mỹ năm 2009, có tới 140 ngân hàng phá sản, thì mới thấy hết được sự nỗ lực của mỗi ngân hàng cũng như sự vươn lên của cả hệ thống ngân hàng Việt Nam.
    Sơ đồ 1: Lãi suất chỉ đạo của NHNN năm 2008 và 2009
 
Nguồn:  NHNN Việt Nam
Bên cạnh đó, năm 2009 hệ thống ngân hàng Việt Nam còn có khó khăn từ trách nhiệm mà Chính phủ đặt lên vai các ngân hàng với vai trò làm kênh dẫn xuất các chính sách tài khoá (CSTK), chính sách tiền tệ (CSTT) phục vụ tăng trưởng kinh tế, thực hiện an sinh xã hội. Điều này đặt ra không ít rủi ro, nếu các NHTM không có một quy trình kiểm soát chặt chẽ hiệu qủa đồng vốn, buộc các ngân hàng phải thận trọng hơn với các khoản cho vay. Tính chung cả hệ thống, tăng trưởng tín dụng năm 2009 đạt gần 38%(v) trong khi năm 2008 con số này chỉ ở mức 22%. Tuy bị đánh giá là quá nóng so với tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhưng nếu nhìn từ góc độ người cần vốn, có thể thấy rằng đây là một dấu hiệu của sự phục hồi kinh tế và là một thành công lớn khi các nguồn vốn khác bị suy giảm như vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, ODA và nguồn kiều hối vi. Tổng dư nợ tín dụng tăng lên cũng có nghĩa là khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế vẫn lớn,  DN vẫn cần có vốn cho quá trình “hồi phục” và đây cũng là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức 5,32%. Hơn nữa, không thể phủ nhận nỗ lực của hệ thống ngân hàng khi nợ xấu toàn hệ thống hiện đã giảm đáng kể so với thời điểm cuối năm 2008 và đầu năm 2009. Tất nhiên, một phần không nhỏ là nhờ gói hỗ trợ lãi suất ngắn hạn giúp DN vượt qua khó khăn, có vốn trả nợ vay ngân hàng, nhưng mặt khác là sự nỗ lực từ chính họ. Hiện tỷ lệ nợ xấu của Vietcombank là 3% (con số này thời điểm đầu năm là gần 4%), VietinBank là 0,7%; Eximbank trên 2% so với mức 4,71% cuối năm 2008 và 6% thời điểm đầu năm 2009. Các ngân hàng khác như ACB, Sacombank cũng có tỷ lệ nợ xấu ở mức rất thấp (đều dưới 1%)(vii). Theo báo cáo của NHNN, với tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống khoảng 2,2%, (năm 2008 là 2,17%) điều này khảng định chất lượng tín dụng của các ngân hàng đã được coi trọng. Kết thúc năm tài chính, không ít ngân hàng đã công bố kết quả kinh doanh, nhiều ngân hàng đã có lợi nhuận dự kiến vượt 2.000 tỷ đồng như: VietinBank, Vietcombank, ACB và Techcombank; Nhóm các ngân hàng có lợi nhuận trên 1.000 tỷ đồng gồm: Sacombank, Eximbank, MB; nhóm các ngân hàng có lợi nhuận dưới 1.000 tỷ đồng gồm: Maritime Bank, SCB, VIB,… Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của năm 2009 dự kiến đạt 19%, tăng so với năm 2007 là 17,8% và vượt xa con số 11,9% năm 2008 viii.
Một thành công nữa của nền kinh tế Việt Nam là đã kiềm chế được lạm phát. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 tăng cao nhất so với các tháng trong năm, tăng 1,38% (xem sơ đồ 2). Nhưng chỉ số lạm phát chỉ tăng 6,52% so với tháng 12 của năm 2008 và bình quân cả năm chỉ tăng 6,88% so với năm trước.
Sơ đồ 2: Diễn biến giá tiêu dùng qua các tháng của năm 2007 - 2009 (%)
 
Nguồn: số liệu công bố hàng tháng của Tổng cục Thống kê
* Trên TTCK
Năm 2009 ghi nhiều điểm mốc quan trọng trên TTCK. Thời kỳ hoàng kim của chứng khoán Việt Nam năm 2007, Vn-Index liên tục leo dốc để “tìm đỉnh” và đã có lúc lên trên 1.000 điểm, thì đến đầu năm 2009, thị trường lại trong tình trạng thường xuyên “dò đáy” và ngày 24/2/2009, đáy thị trường đã chính thức được xác lập với mức 235,5 điểm(ix). Trong suốt quý I/2009, chỉ vài phiên có khối lượng giao dịch vượt 30 triệu chứng khoán. Đến giữa năm, dấu hiệu cho sự phục hồi mới nhen nhóm sau bộ ba đại gia tài chính (Bảo Việt, Vietcombank và VietinBank) lần lượt chào sàn, mở màn cho sự trở lại của làn sóng IPO tiếp theo của Eximbank, Công ty CP Tập đoàn Ma San và SHB. Cộng thêm các thông tin hỗ trợ tích cực từ gói kích thích kinh tế và kết quả hoạt động khả quan của các DN. Những lực đẩy này cũng chỉ giúp VnIndex bật lên 633,21 điểm vào ngày 23/10/2009 và đóng cửa năm 2009 ở mức 494 điểm.
Năm 2009 cũng là năm đánh dấu sự ra đời của thị trường giao dịch cổ phiếu dành cho công ty đại chúng chưa niêm yết (UPCoM) sau nhiều lần lỗi hẹn. Đến nay thị trường UPCoM đã hoạt động được 6 tháng (bắt đầu từ ngày 24/6/2009) nhưng những gì mà UPCoM làm được vẫn mờ nhạt hẳn so với diễn biến của 2 thị trường niêm yết Tp.HCM và Hà Nội.
Sự biến động của TTCK cũng như thị trường vàng, thị trường ngoại hối ở Việt Nam chẳng theo một quy luật nào đã cho thấy những bất ổn phát sinh từ chính những yếu tố nội tại của thị trường như thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận của TTCK (thị trường sơ cấp, sở giao dịch, UPCoM, thị trường trái phiếu chuyên biệt), giữa TTCK với TTTT, TTTD và thị trường vàng. TTTC bị phân khúc, chưa có sự minh bạch trong quản trị điều hành và trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý, giám sát ở tầm vĩ mô, cũng như các thông tin thị trường chưa được cập nhật một cách chuẩn xác đến các nhà đầu tư, trong khi yếu tố tâm lý luôn bị chi phối nặng nề bởi các tin đồn; trên thị trường vẫn còn khoảng trống pháp lý cho những nhà kinh doanh, đầu cơ có điều kiện thôn tính, lũng đoạn thị trường.

2. Những vấn đề đặt ra đối với TTTC Việt Nam năm 2010
Với các chỉ tiêu dự báo của năm 2010: về tốc độ tăng trưởng kinh tế 6,5%, chỉ tiêu lạm phát khoảng 7%,  tổng phương tiện thanh toán cũng như tăng trưởng tín dụng ở mức khoảng 25%, thâm hụt Ngân sách nhà nuớc khoảng 6,2% GDP... Đây là những con số đưa ra rất tích cực. Nhưng vấn đề đặt ra là với các chỉ tiêu này đã thực sự giúp Chính phủ ổn định kinh tế vĩ mô, linh hoạt trong điều hành chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ? Giúp nền kinh tế phục hồi bền vững? Giúp nâng cao được sức cạnh tranh của nền kinh tế?…và để đạt được các chỉ tiêu này thì cần xử lý các vấn đề lạm phát, tỷ giá, lãi suất, CSTT, CSTK như thế nào. Ở đây chúng tôi xin được trao đổi một số vấn đề đặt ra cho năm 2010.
Thứ nhất, về lạm phát. Không ít người lo ngại năm 2009, lạm phát của Việt Nam sẽ khó đạt được chỉ tiêu đặt ra trong điều kiện thực hiện CSTT nới lỏng, kích cầu đầu tư, tiêu dùng, tín dụng tăng trưởng nóng, nhập siêu tăng mạnh, giá một số nguyên vật liệu tăng…Nhưng nhờ có sự chỉ đạo chặt chẽ của Chính phủ, NHNN, sự nỗ lực của các thành phần kinh tế, nên chỉ số lạm phát bình quân của năm 2009 ở mức 6,88%. Tuy nhiên, một số chính sách vĩ mô đã triển khai năm 2009, sẽ tiếp tục tác động sang năm 2010 như chính sách kích thích kinh tế, tăng trưởng tín dụng cao, cung tiền ra lưu thông lớn, nhập siêu cao và đặc biệt là sự kỳ vọng vào sự mất giá của đồng Việt Nam được thể hiện qua giá vàng, tỷ giá hối đoái, giá vốn (lãi suất) và giá cả một số mặt hàng. Mặt khác sự phát trỉển của kinh tế Việt Nam năm 2010 đặt trong bối cảnh chung của kinh tế thế giới – đang cố gắng ra khỏi khủng hoảng… thì mới thấy nguy cơ tái lạm phát cao là đáng lo ngại. Lưu ý rằng giải pháp cho vấn đề này không chỉ đơn thuần là việc điều hành CSTT của NHNN. Bởi CSTT của Việt Nam hiện chỉ góp phần kiểm soát lạm phát chứ không thể giải quyết triệt để bài toán lạm phát. Vì vậy, để chủ động kiểm soát được lạm phát ở mức độ cho phép phải huy động tổng lực của nhiều Bộ, Ngành và các thành phần kinh tế. Đối với NHNN: Thông qua việc điều hành CSTT phải chủ động kiểm soát tăng trưởng tín dụng của các TCTD ngay từ những tháng đầu năm, đi đôi với nâng cao chất lượng của từng khoản vay. Kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động, đảm bảo tính thanh khoản của từng ngân hàng, làm cho TTTT liên ngân hàng được lành mạnh và ổn định. Chỉ khi TTTT liên ngân hàng được ổn định NHNN mới có điều kiện điều hành CSTT linh hoạt theo tín hiệu thị trường. Đối với Chính phủ cũng như một số bộ ngành (Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT): Cần lưu tâm đến chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, không thể để xảy ra tình trạng GDP tăng cao, nhưng tỷ lệ lạm phát rất cao như năm 2007, bởi tăng trưởng trong trường hợp này cũng không còn nhiều ý nghĩa. Vì vậy, trong việc điều hành CSTK, trong việc đẩy mạnh đầu tư công, hiệu quả của đồng vốn phải được đặt lên hàng đầu. Ngay từ năm 2010, cần đưa ra lộ trình để giảm bội chi ngân sách, để có thể đến năm 2015 cân bằng được thu chi ngân sách. Nếu không có được những định hình ngay từ năm 2010 về bội chi ngân sách, thì không thể có phương án cải thiện chi tiêu của quốc gia. Đành rằng muốn duy trì tăng trưởng kinh tế cao, phải đẩy mạnh đầu tư, nhưng tăng trưởng mà dựa nhiều vào đầu tư thì chất lượng tăng trưởng sẽ không cao, thâm hụt thương mại sẽ không giảm, bội chi NSNN sẽ tiếp tục cao, lạm phát sẽ tăng và tạo sức ép lên tỷ giá hối đoái. Mặt khác, một trong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát là niềm tin của người dân vào các chính sách vĩ mô. Nếu người dân còn quan ngại về những bất ổn trong chính sách, luôn kỳ vọng vào sự mất giá của đồng tiền, thì cũng đẩy lạm phát tăng cao. Vì vậy, khắc phục vấn đề này cần một sự nhất quán và minh bạch trong điều hành chính sách, tránh tạo ra các cú sốc, đồng thời thông tin kịp thời việc thay đổi chính sách đến người dân, chú ý đến định hướng dư luận xã hội, ngăn chặn kịp thời các tin đồn trên TTTT. Đây là những việc làm rất cần thiết để tạo niềm tin cho từng DN và cho các tầng lớp dân cư trong điều kiện hiện nay.
Thứ hai, về tỷ giá. Thực tế cho thấy, khi có sự chênh lệch quá lớn giữa tỷ giá chính thức với tỷ giá trên thị trường tự do thì rất dễ phát sinh những căng thẳng về ngoại tệ trên thị trường. Điều này một phần là do những tác động xấu của các tin đồn, hoạt động của thị trường ngoại tệ tự do, nhưng không thể phủ nhận có nguyên nhân từ việc xử lý cơ chế chính sách của bản thân các cơ quan quản lý Nhà nước. Do chênh lệch tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do, nên DN và dân cư có ngoại tệ không muốn bán cho ngân hàng. Do lãi suất USD luôn được điều chỉnh ở mức cao, nên đã tạo thêm tâm lý găm giữ ngoại tệ…Tình trạng này đã đẩy đôla hóa ở mức cao. Người dân không chỉ dùng đôla cho nhu cầu thanh toán quốc tế phi chính thức (buôn ban tiểu ngạch, buôn lậu…) mà còn có nhu cầu cất giữ tài sản (đôla hóa chức năng cất giữ tài sản), đôla hóa nhu cầu thanh tóan trong nước thay thế tiền đồng. Điều này cũng thật khó lý giải khi USD bị mất giá với các đồng tiền trên thế giới, nhưng lại lên giá với VND. Những vấn đề này đã làm giảm hiệu ứng của CSTT, chính sách tỷ giá và thúc đẩy phát triển thị trường ngoại tệ phi chính thức. Vì vậy ngay từ đầu năm 2010, cần xác định rõ mục tiêu điều hành chính sách tỷ giá hối đoái là đảm bảo sự ổn định của cán cân thanh toán, đảm bảo sự cạnh tranh quốc gia, tạo điều kiện cho xuất khẩu, tránh cú sốc về tỷ giá. Như vậy cần xây dựng tiêu thức điều chỉnh tỷ giá danh nghĩa, khi điều chỉnh tỷ giá cần chú ý đến hành vi của các khu vực kinh tế với điều chỉnh chính sách, tránh hiện tượng kiềm chế tỷ giá quá lâu, gây tâm lý kỳ vọng vào việc phá giá đồng nội tệ, đảm bảo lợi ích của người nắm giữ nội tệ bằng cách điều chỉnh lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ xuống thấp để giảm kỳ vọng đầu cơ ngoại tệ. Mặt khác, để NHNN chủ động can thiệp thị trường ngoại hối, cần một sự quản lý ngoại hối tập trung vào NHNN thông qua cơ chế mua lại của các Bộ/ Ngành, đi đôi với việc kiểm soát chặt chẽ các giao dịch ngoại hối trên thị trường tự do. Xây dựng chương trình giải thích chính sách một cách ngắn gọn, dễ hiểu trên các phương tiện truyền thông để người dân và DN biết định hướng chính sách, giảm đi những yếu tố kỳ vọng không có lợi cho việc điều hành tỷ giá.
Thứ ba, về lãi suất. Hiện nay,Việt Nam nằm trong top những nước có lãi suất cơ bản cao nhất thế giới, chỉ thấp hơn Pakistan,Venezuela... song xu hướng thị trường vẫn kỳ vọng vào việc sẽ điều chỉnh lãi suất cơ bản của NHNN trong năm 2010. Lãi suất là giá mua bán vốn, không thể có giá bán vốn thấp cho DN khi ngân hàng phải mua vốn với giá cao, và cũng không thể mua vốn với giá cao, lại phải bán vốn thấp do bị khống chế bởi trần lãi suất cho vay. Vì vậy để các NHTM kinh doanh theo nguyên tắc thường mại & thị trường, rất cần xử lý yếu tố lãi suất. Chúng tôi cho rằng đã đến lúc trả lại đúng vai trò cho lãi suất cơ bản - chỉ mang tính định hướng cho các TCTD, lãi suất kinh doanh của các TCTD cần theo tín hiệu thị trường, hay nói cách khác là cần một cơ chế lãi suất thông thoáng hơn - điều mà các ngân hàng đã đạt được từ năm 2002. Khi các ngân hàng tự định đoạt lãi suất, không sợ họ muốn nâng lên bao nhiêu cũng được, bởi còn có sự quản lý giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước mà trực tiếp nhất là NHNN. Vì vậy, sau khi gói hỗ trợ lãi suất ngắn hạn kết thúc, một số chính sách kích thích kinh tế vẫn còn tiếp tục trong năm 2010, trong đó có gói hỗ trợ lãi suất 2% cho các dự án trung và dài hạn, thì rất cần một sự đồng bộ của việc điều hành cơ chế lãi suất, song hành với cơ chế điều hành tỷ giá để việc phân bổ vốn đúng đối tượng hơn, hiệu quả hơn, minh bạch hơn trong hoạt động ngân hàng.
Thứ tư, tạo sự đồng bộ của tất cả các thị trường bộ phận. Đây là một việc rất khó nhưng lại rất quan trọng. Chính sách lãi suất không thể phát huy nếu không có sự hỗ trợ của các chính sách khác. TTTT không thể phát triển bền vững khi TTCK luôn nóng lạnh đột ngột và thị trường vàng luôn biến động ngoài dự kiến. Do vậy, việc phát triển đồng bộ các thị trường là điều kiện, là môi trường cho các chính sách phát huy tác dụng.
Thách thức là luôn có, khó khăn luôn song hành nhưng những gì đã đạt được trong năm nay sẽ là lực đẩy đưa nền kinh tế Việt Nam vững vàng vượt qua đáy suy giảm, duy trì được tăng trưởng hợp lý trong năm 2010 và chủ động trước những sức ép cả từ bên trong và bên ngoài để bước sang thập kỷ thứ hai một cách tự tin, an toàn và hiệu quả./.

-----------------------------------

i Quý 1: tăng 3,1%, quý2:  tăng 4,2%, quý 3: tăng 5,8% và quý 4 vượt lên là 6,8%. Nguồn TCTK.
ii  Mức tăng trưởng dư nợ tín dụng năm 2009: 37,73%. Nguồn NHNN Việt Nam
iii  Thông tư số 15/2009/TT-NHNN ban hành ngày 10/8/2009: tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn đối với các NHTM là 30%; với CTTC và CTCTTC là 30%; với QTDNDTW là 20%.
iv  Theo Văn bản số 369/TB-VPCP, chậm nhất 90 ngày kể từ ngày 30/12/2009, mọi hoạt động liên quan đến kinh doanh sàn giao dịch vàng và kinh doanh vàng trên tài khoản ở trong nước phải chấm dứt hoạt động (trước ngày 30/3/2010). Thủ tướng cũng yêu cầu Thống đốc NHNN Việt Nam bãi bỏ ngay quy định về việc kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài theo Quyết định số 3/2006/QĐ-NHNN ngày 18/01/2006.
v   Nguồn Báo cáo của NHNN
vi  ODA đã được ký kết là 3,85 tỷ USD; kiều hối khoảng 6,8 tỷ USD; FDI là 19,7 tỷ USD. Nguồn Bộ KH&ĐT.
vii   http://www.vnba.org.info/index.php?option=com_content&task=view&id=1199&Itemid=69
viii  http://dantri.com.vn: xep-hang-loi-nhuan-ngan-hang-2009.
ix  http://www.vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/Chung-khoan/2009/02/3BA0B9E6/