»

Giá vàng giao ngay thế giới 9h06' ngày 7/2: 207,94 USD/chỉ. Giá vàng 9999 tại Hà Nội 8h00' ngày 7/2 mua: 4460 nghìn đồng/chỉ, bán: 4492 nghìn đồng/chỉ. Chỉ số chứng khoán ngày 7/2: VN-Index: 401,08 + 1,35 HNX-Index : 62,53  + 1,04 Thời gian giao dịch phục vụ khách hàng tại các Chi nhánh, PGD, QTK của VietinBank – Từ thứ 2 tới thứ 6: Từ đầu giờ sáng tới 17h30; Thứ 7: Từ đầu giờ sáng tới 12h (trừ ngày lễ, tết).

Doanh nghiệp vừa và nhỏ ( DNVVN ) thuộc khu vực dân doanh sau một năm gia nhập WTO.

Nguồn tin: Theo Tạp chí Cộng sản – chuyên đề cơ sở số 14 (02/2008)
Ngày cập nhật: 18/03/2008; 10:03:52 AM

VÕ THANH THU
GS, TS Trường đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
CAO THỊ VIỆT HƯƠNG

Phát triển DNVVN là một chủ trương lớn của Đảng. Sau một năm gia nhập WTO, bên cạnh những thuận lợi chưa từng có, các DNVVN cũng đang đứng trước những thách thức vô cùng to lớn. Để tiếp tục phát triển, cần nhận thức rõ các ưu thế lẫn các lực cản.

Theo tài liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đến tháng 10 năm 2007, Việt Nam có khoảng 280.000 DN được cấp phép hoạt động, trong đó có 8.500 dự án FDI, trên 2000 DNNN, còn lại khu vực kinh tế tư nhân. Chính phủ Việt Nam dự kiến đến năm 2010 sẽ phát triển thêm 220.000 DN chủ yếu ở khu vực kinh tế tư nhân.

* VIỆT NAM GIA NHẬP WTO ĐÃ CÓ NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC ĐẾN DNVVN.

- Các DNVVN có hành lang pháp lý đầy đủ và thuận lợi hơn để phát triển.
Năm 2000 Luật Doanh nghiệp ra đời( thực chất là Luật dành cho kinh tế tư nhân). Từ đó đến nay, dưới sức ép của tiến trình gia nhập WTO, Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành nhiều Nghị định mang tính pháp lý dành riêng cho hỗ trợ DNVVN phát triển.
- Hội nhập WTO tạo môi trường kinh doanh bình đẳng hơn cho DNVVN ở khu vực kinh tế tư nhân phát triển.
- Các DNVVN có điều kiện thuận lợi tiếp cận với thị trường thế giới.
Từ năm 2002 trở lại đây, mọi DN không phân biệt thành phần kinh tế kể cả hộ cá thể có đăng ký kinh doanh hợp pháp đều có quyền xuất - nhập khẩu trực tiếp với nước ngoài. Các rào cản về giấy phép, hạn ngạch xuất - nhập khẩu giảm rất nhiều; việc đi lại của các cá nhân Việt Nam ra nước ngoài rất thuận lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho các DNVVN tiếp cận với thị trường thế giới.
- Môi trường kinh doanh minh bạch và công khai.
Hiện nay các cơ quan của Nhà nước đều công khai công bố dưới nhiều hình thức các cơ chế chính sách có liên quan đến DN, giúp các DN tiếp cận kịp thời, tốn ít thời gian và tiền bạc.
- Thủ tục hành chính thuận lợi hơn – cơ hội tốt để loại trừ tham nhũng.
- Nhờ có hội nhập, tính tự chủ của DNVVN tăng lên.
- Cùng với tiến trình hội nhập, thuế nhập khẩu và các rào cản phi thuế quan giảm :Việc giảm giá nguyên vật liệu nhập khẩu phục vụ chi phí đầu vào giúp các DN Việt Nam thuận lợi hơn trong việc đưa hàng hoá thâm nhập vào thị trường thế giới. Việt Nam được hưởng qui chế tối huệ quốc tại 164 nước trên thế giới nên nhiều ngành hàng, mặt hàng được miễn giảm thuế, xoá bỏ hạn ngạch. Đây là nguyên nhân cơ bản tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu của các DNVVN; cạnh tranh trên thị trường tăng, tạo điều kiện thúc đẩy các DNVVN đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí để nâng cao sức cạnh tranh…

* NHỮNG HẠN CHẾ CỦA TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP WTO ĐẾN CÁC DNVVN VIỆT NAM

- Sự chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế ở tất cả các cấp chưa đáp ứng yêu cầu:
Các Bộ, Ngành đang trong quá trình xây dựng chương trình kế hoạch hội nhập quốc tế nhưng nhiều nơi chưa nhận diện rõ hội nhập mang lại cơ hội gì, thách thức gì một cách cụ thể.Vấn đề này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến xây dựng cơ chế chính sách, đáp ứng nhu cầu hội nhập, gây khó khăn cho các DN, trong đó có các DNVVN.
- Môi trường kinh doanh của Việt Nam đã cải thiện nhiều, nhưng chưa nhanh, chưa thực sự mang tính cách mạng.
Theo xếp hạng của “ Doing Business –2007” , một tổ chức có uy tín, Việt Nam xếp hạng 104/175 nước tham gia khảo sát, tụt 6 bậc so với năm 2006, ở hàng năng lực cạnh tranh tụt 03 bậc, đứng thứ 132 trên thế giới. Theo các chuyên gia, sự thay đổi cơ chế quản lý chưa đáp ứng nhu cầu hội nhập WTO, do đó chưa tác động mạnh nhằm mang lại những thay đổi to lớn cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung và cho khu vực DNVVN nói riêng.
- Nguồn vốn đầu tư trong nước tại các DNVVN còn hạn chế, điều kiện nâng cấp và hiện đại hoá cơ sở vật chất rất thấp, khó có khả năng hội nhập sâu rộng trong điều kiện cạnh tranh gay gắt.
- Thiếu thông tin về thị trường, trình độ quản lý doanh nghiệp yếu:
Theo số liệu khảo sát các DNVVN ở đồng bằng Sông Cửu Long, trên 50% số giám đốc các công ty chưa tham gia các lớp đào tạo quản trị kinh doanh, nhiều người trong số họ chưa tốt nghiệp phổ thông; trình độ tiếng Anh, sử dụng công nghệ thông tin kém khiến tỷ lệ DN bị đóng cửa khá cao, bình quân trên 10%/ năm.
- Theo cam kết WTO, Việt Nam bỏ tài trợ trực tiếp đối với hoạt động xuất khẩu ( tài trợ đèn đỏ ). Điều này sẽ ảnh hưởng nhất định đối với các DNVVN khi tham gia xuất khẩu hàng hóa ra thị trường khu vực và thế giới.
- Những qui định, chuẩn mực kinh doanh mới như: bảo hộ quyền sở hữu tài sản trí tuệ, vấn đề rào cản trong hoạt động kinh doanh quốc tế, quản lý tiêu chuẩn hoá quốc tế, chuẩn mực nâng cao cạnh tranh cho DN…đã tác động không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các DNVVN mới được thành lập, kinh nghiệm kinh doanh còn hạn chế.
- Việc Việt Nam chưa được thừa nhận có nền kinh tế thị trường:
Theo cam kết khi gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường cho đến năm 2018. Điều này đã tác động đến khả năng tự vệ, chống bị kiện phá giá của DNVVN VN trong hoạt động thương mại quốc tế. Bên cạnh đó, nền công nghiệp phụ trợ của Việt Nam chưa phát triển, vì vậy đa số các DNVVN bị lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, nhập siêu ở Việt Nam gia tăng. Nhập khẩu nhiều dẫn đến chi phí và rủi ro kinh doanh tăng, tác động hạn chế đến khả năng cạnh tranh của các DNVVN trong nước cũng như thị trường quốc tế.

* MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG ĐỀ XUẤT

- Thay đổi tư duy về vai trò, vị trí của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước có qui mô vừa và nhỏ: Cần nhận thức nhất quán đây là khu vực kinh tế quan trọng, đóng góp lớn cho sự tăng trưởng kinh tế, đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và bền vững bởi đây là khu vực kinh tế năng động, trẻ, lực lượng đông, đang phát triển nhanh, dễ thay đổi, phù hợp với môi trường kinh doanh mới.
- Mỗi ngành, địa phương phải xây dựng chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế: Các DNVVN là khu vực kinh tế năng động nhưng cũng dễ bị tác động nhất trong các khu vực kinh tế trong tiến trình hội nhập. Do đó mỗi địa phương cần chủ động xây dựng chiến lược phát triển phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương mình.
- Khuyến khích xây dựng các quỹ đầu tư: Việc xây dựng quỹ đầu tư cho DNVVN là mục tiêu rất quan trọng để phát triển, vì vậy cần thu hút các nhà tài trợ cùng tham gia. Đồng thời tìm cách tuyên truyền về qui chế hoạt động của các loại quỹ này, giúp các DNVVN có điều kiện tiếp cận tốt nhất các nguồn vốn.
- Phòng thương mại và công nghiệp Việt nam cùng các hiệp hội ngành hàng tăng cường hoạt động tư vấn và tổ chức các lớp đào tạo bồi dưỡng các kiến thức nâng cao năng lực của các nhà quản trị DNVVN.
- Khuyến khích phát triển các dịch vụ, nhất là dịch vụ thương mại, dịch vụ tư vấn, dịch vụ quản trị doanh nghiệp, dịch vụ pháp lý nhằm hỗ trợ phát triển các DNVVN, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế.
- Đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại: cùng với đẩy mạnh cải tổ nền kinh tế theo các cam kết song phương và đa phương để các nước sớm thừa nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường, giúp các DNVVN VN bình đẳng kinh doanh trên thị trường quốc tế